Chuyển dịch mô hình phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh Từ phát triển dựa trên nguồn lực đến phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo
DOI:
https://doi.org/10.24311/jabes/2026.37.10.6Từ khóa:
Năng suất tổng hợp (TFP), Tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, Phát triển đô thị, Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Kinh tế sáng tạo, Thành phố Hồ Chí MinhTóm tắt
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh sang nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo, các đô thị lớn đang đứng trước yêu cầu chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên mở rộng các yếu tố đầu vào sang mô hình phát triển dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Bài viết phân tích trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh, nơi mô hình tăng trưởng truyền thống chủ yếu dựa vào vốn, lao động và đất đai đã dần bộc lộ những giới hạn về hiệu quả và tính bền vững. Dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh, nghiên cứu xây dựng một khung phân tích tích hợp, trong đó năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) được xem là kết quả của sự tương tác giữa chất lượng thể chế (Institutional Quality – INST), hiệu ứng mạng lưới kinh tế đô thị (Network Effects – NET), vốn con người và đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những giới hạn của mô hình phát triển dựa trên nguồn lực, nhận diện các điểm nghẽn trong quá trình chuyển dịch và làm rõ những điều kiện cần thiết để hình thành mô hình phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao TFP không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn đòi hỏi cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số, tăng cường kết nối kinh tế và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tích hợp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch mô hình phát triển của TP.HCM theo hướng nâng cao năng suất, tăng trưởng nội sinh và phát triển bền vững. Nghiên cứu góp phần bổ sung cách tiếp cận lý thuyết về chuyển dịch mô hình phát triển đô thị thông qua việc đề xuất một khung phân tích tích hợp, nhấn mạnh vai trò của TFP như một chỉ báo phản ánh chất lượng thể chế, hiệu ứng mạng lưới và năng lực đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế đô thị. Về phương pháp, bài viết sử dụng cách tiếp cận xây dựng khung phân tích lý thuyết kết hợp với bằng chứng mô tả nhằm phân tích quá trình chuyển dịch mô hình phát triển và đề xuất các hàm ý chính sách cho TP.HCM.
Tài liệu tham khảo
Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2005). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. In P. Aghion & S. N. Durlauf (Eds.), Handbook of Economic Growth (Vol. 1A, pp. 385–472). Amsterdam: Elsevier.
Charnes, A., Cooper, W. W., & Rhodes, E. (1978). Measuring the efficiency of decision-making units. European Journal of Operational Research, 2(6), 429–444.
Dijkstra, L., Poelman, H., & Veneri, P. (2019). The EU–OECD definition of a functional urban area. OECD Regional Development Working Papers, No. 2019/11. Paris: OECD Publishing.
Färe, R., Grosskopf, S., Norris, M., & Zhang, Z. (1994). Productivity growth, technical progress, and efficiency change in industrialized countries. American Economic Review, 84(1), 66–83.
Glaeser, E. L. (2011). Triumph of the City: How Our Greatest Invention Makes Us Richer, Smarter, Greener, Healthier, and Happier. New York: Penguin Press.
Lucas, R. E. Jr. (1988). On the mechanics of economic development. Journal of Monetary Economics, 22(1), 3–42.
OECD. (2012). Redefining “Urban”: A New Way to Measure Metropolitan Areas. Paris: OECD Publishing.
OECD. (2015a). Governing the City. Paris: OECD Publishing.
OECD. (2015b). The Innovation Imperative: Contributing to Productivity, Growth and Well-Being. Paris: OECD Publishing.
Porter, M. E. (1998). Clusters and the new economics of competition. Harvard Business Review, 76(6), 77–90.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 260/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội.
Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5), S71–S102.
Rosenthal, S. S., & Strange, W. C. (2004). Evidence on the nature and sources of agglomeration economies. In J. V. Henderson & J. F. Thisse (Eds.), Handbook of Regional and Urban Economics (Vol. 4, pp. 2119–2171). Amsterdam: Elsevier.
Solow, R. M. (1957). Technical change and the aggregate production function. Review of Economics and Statistics, 39(3), 312–320.
Tổng cục Thống kê. (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2023. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê.
UN-Habitat. (2022). World Cities Report 2022: Envisaging the Future of Cities. Nairobi: United Nations Human Settlements Programme.
Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS). (2024). Báo cáo kinh tế – xã hội Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và định hướng chuyển dịch mô hình phát triển giai đoạn 2025–2030. Thành phố Hồ Chí Minh.
World Bank. (2009). World Development Report 2009: Reshaping Economic Geography. Washington, DC: World Bank.
World Bank. (2020). Enhancing Innovation for Competitiveness. Washington, DC: World Bank.
Lượt tải xuống
Đã Xuất bản
Số
Chuyên mục
Giấy phép
Bản quyền (c) {copyrightHolder}

Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Phi thương mại 4.0 Quốc tế.



